DANH SÁCH THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG CHỨNG MINH Nhiệm kỳ 1992-1997
A. BAN THƯỜNG TRỰC Pháp chủ: Hòa thượng Thích Đức Nhuận Phó Pháp chủ kiêm Giám luật: Hòa thượng Thích Đôn Hậu Phó Pháp chủ: Hòa thượng Thạch Xom Phó Pháp chủ: Hòa thượng Maha Saray Phó Pháp chủ: Hòa thượng Thích Mật Hiển Phó Pháp chủ: Hòa thượng Thích Huệ Thành Phó Pháp chủ: Hòa thượng Thích Tâm Tịch B. DANH SÁCH HỘI ĐỒNG CHỨNG MINH 1) Hòa thượng Thích Giải An – Quảng Ngãi 2) Hòa thượng Thích Thanh Ban – Nam Hà 3) Hòa thượng Võ Văn Bi – An Giang 4) Hòa thượng Tăng Đức Bốn – TP Hồ Chí Minh 5) Hòa thượng Thích Tắc Châu - TP Hồ Chí Minh 6) Hòa thượng Thích Hưng Dụng – Thừa Thiên- Huế 7) Hòa thượng Thích Trí Giác – Quảng Nam – Đà Nẵng 8) Hòa thượng Thích Thiện Hào – TP Hồ Chí Minh 9) Hòa thượng Thích Đạt Hảo - TP Hồ Chí Minh 10) Hòa thượng Thích Thanh Hào – Ninh Bình 11) Hòa thượng Thích Từ Huệ - Tiền Giang 12) Hòa thượng Thích Thanh Khái – Nam Hà 13) Hòa thượng Thích Thiện Khải – Đồng Nai 14) Hòa thượng Thích Quảng Kim – TP Hồ Chí Minh 15) Hòa thượng Thích Pháp Lan – TP Hồ Chí Minh 16) Hòa thượng Thích Minh Luân – Hải Hưng 17) Hòa thượng Châu Mum – Hậu Giang 18) Hòa thượng Thích Hồng Năng – TP Hồ Chí Minh 19) Hòa thượng Thích Giác Nhu – Đồng Nai 20) Hòa thượng Danh Nhưỡng – Kiên Giang 21) Hòa thượng Thích Trí Nghiêm – Khánh Hòa 22) Hòa thượng Thích Đức Nhuận – Hà Nội 23) Hòa thượng Thích Minh Nhuận – TP Hồ Chí Minh 24) Hòa thượng Thích Bửu Ngọc – TP Hồ Chí Minh 25) Hòa thượng Thích Thiện Phú – TP Hồ Chí Minh 26) Hòa thượng Mahasaray – Trà Vinh 27) Hòa thượng Thích Trí Tấn – Sông Bé 28) Hòa thượng Thích Huệ Thành – Đồng Nai 29) Hòa thượng Thích Trí Tịnh – TP Hồ Chí Minh 30) Hòa thượng Thích Tâm Tịch – Hà Nội 31) Hòa thượng Thích Pháp Triều – TP Hồ Chí Minh 32) Hòa thượng Thạch Xom – Trà Vinh 33) Hòa thượng Thích Bửu Ý – TP Hồ Chí Minh Trích theo tài liệu: Giáo hội Phật giáo Việt Nam từ Đại hội đến Đại hội (1981 - 2012) - Nhà xuất bản Tôn giáo 2012. Người thực hiện: Nguyễn Đại Đồng
Bài liên quan
Bài viết khác
-
Sám hối và Bí tích rửa tội
Phật giáo chủ trương tự lực, nhìn nhận tội lỗi như sản phẩm của nghiệp và vô minh và dùng sám hối như một phương tiện nội tâm để chuyển hóa.
-
Văn bia chùa Đông Lai (Già Lễ tự)
Chùa Đông Lai bảo lưu được nhiều đồ thờ có giá trị nghệ thuật cao. Các hiện vật được gìn giữ khá nguyên và chọn vẹn, một số di vật tiêu biểu, quý, tiêu biểu như cây hương đá - niên hiệu Bảo Thái, bia đá - niên hiệu Chính Hòa,...
-
Nghiệp “trú” nơi đâu?
Có thể ví, nếu nghiệp là mực, thì A-lại-da thức chính là tờ giấy. Không có giấy, mực chẳng thể bám; không có mực, giấy vẫn trống không.
-
Hương án đá chùa Đặng Xá (Khánh Hưng tự)
Bệ án tạo kiểu chân quỳ dạ cá với những mảng chạm khắc sinh động, rồng mây uốn lượn hết sức đẹp mắt. Cả 3 mặt trước và hai bên hương án đều có khắc chữ Hán. Hai mặt bên liệt kê danh sách những người cung tiến công đức để lập hương án.
-
Giới đàn 1951-1964: Chỉ báo sinh hoạt Phật giáo (P.1)
Nhờ những dấu hiệu như thế, tư liệu biên niên cho phép ta nhìn thấy truyền giới vừa giữ “chính pháp” ở tầng nội dung, vừa vận động theo thời đại ở tầng biểu đạt và quản trị.
-
Văn học Phật giáo chủ công mở đầu văn học bác học Việt Nam
...nhưng Phật văn phong phú hơn Nho văn, chiếm đại đa số. Từ đó có thể nói Văn học Phật giáo có vai trò chủ công trong việc hình thành dòng văn học bác học (văn học viết) Việt Nam.





Bình luận (0)