Tác giả: Cư sĩ Tăng Chí Vinh (Pháp danh: Minh Quang)
Địa chỉ: số 412B đường Tây Ba Rài, khu phố Tân Bình 1, P.Thanh Hòa, Đồng Tháp.
I. Dẫn nhập
Hiện nay chúng ta đang đứng trước thời đại mà khoa học công nghệ đang có những bước phát triển lớn, đỉnh cao nhất là trí tuệ nhân tạo AI và công nghệ vũ trụ mới nhất. Công nghệ vũ trụ năm 2026 tập trung vào tên lửa tái sử dụng (như SpaceX Starship), vệ tinh nhỏ/tầm thấp quan sát Trái Đất và in 3D kim loại ngoài không gian.
Xu hướng nổi bật bao gồm khai thác năng lượng mặt trời không gian, AI trong điều khiển, và đẩy mạnh thám hiểm ngoài không gian. Chúng ta có những công nghệ hiện đại nhất để thám hiểm vũ trụ thế nhưng chúng ta đã thực sự khám phá chính tâm thức của mình chưa.
Khám phá tâm thức của chính mình là một hành trình rất thú vị đã được các nhà Phân Tâm Học của phương Tây và các nhà Duy Thức của phương Đông khám phá. Nhiều học giả hiện đại đã xem Duy Thức Học là tâm lý học chiều sâu đầu tiên của nhân loại. Khi mà khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển đem lại nhiều nét tích cực nhưng cũng có những mặt tiêu cực, đó là sự tiêu thụ thiếu chính niệm dẫn đến những hệ lụy cho thân và tâm. Chúng ta biến một thế giới khan hiếm thành nơi dư thừa thông tin giải trí. Điện thoại thông minh trở thành một kim tim thời hiện đại cung cấp hàm lượng Dopamin kỹ thuật số 24/7 cho một thế hệ kết nối.
Vì sao trong một thời đại đầy đủ vật chất tiện nghi như thế mà con người lại cảm thấy dễ tổn thương hơn và trầm cảm hơn. Phải chăng con người đã hướng ra thế giới bên ngoài quá nhiều mà quên đi việc hiểu chính mình và khai phá chính tâm thức của mình.
Theo Carl Jung nhà Phân Tâm Học người Thụy Sỹ: “Con người mong manh hơn những gì chúng ta tưởng rất nhiều, chúng ta dễ bị thao túng và đồng hóa bởi xã hội. Thế nhưng đó chưa phải là cái Tôi thật sự. Dù ở bất cứ thời đại nào độc lập tư duy luôn đóng vai trò then chốt để phát triển cá nhân.”
Thời đức Phật còn tại thế ngài luôn nhắc nhở cái đệ tử của mình phải luôn chính niệm tỉnh giác hộ trì sáu căn, người nào không hộ trì sáu căn thì không phải là người tu. Ngài dạy rằng: “Mắt là một đại dương sâu thẳm trong đó có các loài thủy quái có thể làm đắm con thuyền tâm của chúng ta bất cứ lúc nào.” Vì thế mà trong một xã hội dư thừa thông tin và tiêu thụ thiếu chính niệm như thế này thì việc mắc nhiều hội chứng tâm lý là vấn đề không thể tránh khỏi.
Hoàn cảnh khốn cùng của nền văn minh chúng ta đang sống đã được các nhà Duy Thức và Phân Tâm Học bắt mạch một cách chính xác. Chúng ta cũng tìm hiểu những nét căn bản về Duy Thức và Phân Tâm Học. Từ đó soi rọi lại chính tâm thức của mình để có thể sống cân bằng trong thời đại đầy cám dỗ.

II. Sơ lược về Duy Thức Học
a. Nguồn gốc của Duy Thức
Duy Thức Học (Yogacara) là một trong những hệ tư tưởng triết học sâu sắc và đồ sộ nhất của Phật giáo Đại thừa. Hệ tư tưởng này tập trung vào việc khám phá bản chất của tâm thức và khẳng định rằng mọi hiện tượng chúng ta trải nghiệm đều là sự biến hiện của tâm.
Dưới đây là những nét chính về nguồn gốc và giáo lý của tông phái này:
Duy Thức Học hình thành tại Ấn Độ vào khoảng thế kỷ thứ 4 sau Công nguyên.
Những người sáng lập: Hai anh em ngài Vô Trước (Asanga) và Thế Thân (Vasubandhu) được coi là những luận sư đặt nền móng vững chắc nhất. Tương truyền, ngài Vô Trước đã tiếp nhận giáo pháp trực tiếp từ Bồ-tát Di-lặc tại cung trời Đâu Suất.
Kinh điển nền tảng: Hệ thống này dựa trên các bộ kinh lớn như Kinh Giải Thâm Mật (Sandhinirmocana Sutra) và các bộ luận như Du-già Sư Địa Luận, Duy Thức Tam Thập Tụng.
Truyền thừa: Sau này, ngài Huyền Trang (đời Đường, Trung Quốc) đã sang Ấn Độ thỉnh kinh, tu học tại tu viện Na-lan-đà và mang dòng tư tưởng này về Đông Á, hình thành nên Pháp Tướng Tông.
b. Cấu trúc tâm thức theo Duy Thức Học
Trong Duy thức học (Vijnaptimatra), tâm thức không phải là một khối đồng nhất mà được chia thành 8 thức (Bát thức). Cấu trúc này giải thích cách chúng ta tiếp nhận thông tin, xử lý dữ liệu và lưu trữ nghiệp lực.

Dưới đây là sơ đồ cấu trúc từ bề nổi đến chiều sâu:
1. Tiền Ngũ Thức (Năm thức giác quan)
Đây là "cánh cửa" đầu tiên tiếp xúc với thế giới bên ngoài. Chúng mang tính chất cảm giác thuần túy, chưa có sự phân biệt thiện ác hay suy luận sâu xa.
Nhãn thức: Cái thấy của mắt.
Nhĩ thức: Cái nghe của tai.
Tỷ thức: Cái ngửi của mũi.
Thiệt thức: Cái nếm của lưỡi.
Thân thức: Cái xúc chạm của thân thể.
2. Đệ Lục Thức (Ý thức)
Đây là thành phần năng động nhất trong tâm thức. Ý thức nhận dữ liệu từ 5 thức trước rồi tiến hành:
Phân biệt, so sánh, và phán đoán.
Tưởng tượng về quá khứ và tương lai.
Quyết định hành động (tạo nghiệp).
3. Đệ Thất Thức (Mạt-na thức)
Mạt-na thức đóng vai trò là "cái tôi" trung tâm. Nó không bao giờ nghỉ ngơi (ngay cả khi ta ngủ say hay hôn mê). Đặc điểm chính là chấp ngã: Nó luôn bám chặt vào thức thứ 8 và coi đó là một "cái tôi" vĩnh hằng. Là cầu nối giữa Ý thức (bên ngoài) và Tàng thức (bên trong). Nguồn gốc của sự ích kỷ và các chấp ngã sâu dày.
4. Đệ Bát Thức (A-lại-da thức/Tàng thức)
Đây là tầng sâu nhất và quan trọng nhất, được ví như một "kho lưu trữ" khổng lồ.
Tàng (Storage): Chứa đựng tất cả các hạt giống (Chủng tử) của mọi hành động, ý nghĩ và lời nói chúng ta từng thực hiện.
Vận hành: Nó âm thầm duy trì sự sống và các chức năng sinh lý của cơ thể.
Tái sinh: Khi một người qua đời, 7 thức trên tạm dừng, nhưng A-lại-da thức mang theo các hạt giống nghiệp để đi vào đời sống mới.
Mối quan hệ giữa các thức
Có thể hình dung cấu trúc này như một dòng sông:
Hạt giống (Chủng tử) nằm trong thức thứ 8.
Khi gặp điều kiện bên ngoài, hạt giống "nảy mầm" thành Hiện hành (suy nghĩ, hành động qua Ý thức và 5 thức giác quan).
Sau khi hành động xong, nó lại "huân tập" (gửi ngược dữ liệu) về lại thức thứ 8 để tạo thành hạt giống mới.
Sự thật thú vị: Trong Duy thức học, thế giới bạn đang thấy không phải là thế giới khách quan bên ngoài, mà là sự "biến hiện" từ các hạt giống trong tâm thức của chính bạn.
Tàng thức là nơi cất chứa tất cả các hạt giống và khi gặp duyên sẽ biểu hiện lên bề mặt của ý thức:
"Hạt giống có nhiều loại
Sinh tử và niết bàn
Mê ngộ và khổ vui
Danh xưng và tướng trạng
Hạt giống của thân tâm
Giới địa và thế gian
Tất cả được cất chứa
Nên thức gọi là tàng"
(Duy Biểu Học – TS.Thích Nhất Hạnh)
Chúng ta thấy rằng đất có công năng cất chứa tất cả các hạt giống. Tâm cũng vậy, tâm cất giữ tất cả các hạt giống rơi vào sáu cửa giác quan tiền ngũ thức, những hạt giống đó được chứa trong kho của tàng thức.
Trong nhiếp Đại Thừa Luận thầy Vô Trước đã đưa ra 6 tính chất của hạt giống:
1.Sát na diệt: sát na là đơn vị đo thời gian ngắn nhất. Diệt nghĩa là chết đi. Tính chất đầu tiên nói rằng tất cả hạt giống đều chết đi liên tục trong mỗi sát na.
2.Quả câu hữu: quả sinh cùng một lần với nhân. Khoảnh khắc hạt giống chết đi ở sát na này sẽ là khoảnh khắc của quả ở sát na trước. Đồng thời là nhân so với sát na sau của khoảnh khắc kế tiếp của hạt giống đó.
3.Hằng tùy chuyển: hằng là liên tục luôn luôn, tùy là đi theo. Hằng tùy chuyển là luôn luôn chuyển động, không có dừng lại. Nếu hạt giống muốn nảy mầm cần có hằng tùy chuyển nếu không nó sẽ dừng lại.
4.Tính quyết định: mỗi hạt giống có một yếu tố quyết định không thay đổi.
5.Đãi chúng duyên: duyên là điều kiện, đãi là chờ đợi. Hạt giống muốn nảy mầm phải có nhiều điều kiện tới với nhau. Khi hạt giống hội tụ đủ điều kiện nó sẽ nảy mầm.
6.Dẫn tự quả: dẫn là đưa tới, hoa quả là hoa trái của chính nó, do tính quyết định sẵn.
"Giá trị một đời người
Tùy thuộc vào phẩm chất
Mọi hạt giống đang nằm
Trong chiều sâu tâm thức"
(Duy Biểu Học – TS.Thích Nhất Hạnh)
Trong cuộc sống người ta đánh giá giá trị của một con người căn cứ vào tài sản, địa vị xã hội, trình độ học vấn. Nội dung của bài kệ trên giá trị của con người không phụ thuộc vào tướng trạng, không tùy thuộc vào địa vị xã hội. Nếu chúng ta muốn hiểu thật rõ giá trị của một người chúng ta hãy nhìn vào phẩm chất những hạt giống trong tàng thức của người đó. Trong Phân Tâm Học gọi là vùng Vô Thức của con người. Vậy tu tập là quá trình tưới tẩm những hạt giống tốt và chuyển hóa những hạt giống tiêu cực trong chiều sâu tâm thức tức là thức A lại da.
"Biểu biệt a lại da.
Là thế giới tính cảnh
Độc ảnh và đới chất
Mười tám giới hình thành".
Có 3 loại đối tượng nhận thức: Tính cảnh, đới chất cảnh, độc ảnh cảnh.
1.Tính cảnh (svabhāva-viṣaya) : nghĩa là thể tính chân thực của thực tại không bị bóp méo. Đối tượng nhận thức của chúng ta hoàn toàn là tự thân của thực tại, là chân như.
Đặc điểm:
+ Có sở y chân thật.
+ Không do thức biến hóa hình ảnh.
+ Là nền tảng cho hiện lượng chân thật.
+ Không thể nhận thức bằng trí năng của não trái.
2.Đới chất cảnh (sālambana-viṣaya): Là cảnh giới có gốc từ cảnh thật (chất), nhưng kèm theo sự biến đổi, tô vẽ bởi thức – tức là có yếu tố chủ quan hóa. Tư duy phân biệt của não trái đóng vai trò tô vẽ thực tại làm cho cảnh bị bóp méo.
"Đới" = mang theo
"Chất" = thực chất (gốc của cảnh)
→ “Đới chất cảnh” = cảnh được thức duyên vào có căn bản thật, nhưng bị tư duy phân biệt của não trái thức biến hóa thành hình ảnh khác.
Đặc điểm:
+Có đối tượng gốc thật.
+Nhưng hình ảnh hiện tại là do thức tạo ra dựa trên chủng tử đã lưu lại.
+Là dạng trung gian giữa thật và vọng.
3.Độc ảnh cảnh (nirālambana-viṣaya): Là cảnh không có đối tượng thật nào làm gốc cả, hoàn toàn do tâm thức tự tạo ra, như bóng trong gương.
"Độc" = đơn độc
"Ảnh" = bóng ảnh
→ “Độc ảnh cảnh” = cảnh chỉ có trong tâm, không có đối tượng ngoài tâm.
Ý thức – khi vọng tưởng, mộng mị, tưởng tượng thuần túy. Do trí năng của não trái tưởng tưởng vẽ ra.
Đặc điểm:
+ Không có căn bản thật.
+ Hoàn toàn do chủng tử thức khởi hiện.
+ Gốc của mê vọng, luân hồi, là cảnh của phi lượng.
Tất cả mọi hiện hành đều mang tính chất tự biểu và cộng biểu. Ví dụ như ta có một hạt giống giận ở chiều sâu tâm thức nhưng chưa biểu hiện ra. Nhưng khi có một người nói một câu gì đó làm cho ta giận, cái giận đó là do hạt giống giận trong chiều sâu tâm thức được tưới tẩm mà biểu hiện lên bề mặt của ý thức.
Tâm thức cộng đồng cái mà nhà Phân Tâm Học Carl Jung gọi là vô thức tập thể là một cái thật nguy hiểm. Nó vô hình nhưng gây ra những tác động lớn lao trong xã hội. Gustave Le Bon [1] gọi là Tâm Lý Đám Đông. Tâm thức cộng đồng làm thay đổi cả một nền móng cấu trúc của xã hội. Ví dụ như xã hội chúng ta thường đánh giá một cá nhân thông qua những thành tựu bề ngoài như vật chất, tiền bạc, địa vị xã hội, ngay cả bản thân của mỗi con người cũng tự đánh giá họ như thế. Nếu không có những yếu tố đó họ tự xem mình là không có giá trị.
Carl Jung đã nhận ra điều đó khi ông viết lại trong hồi ký của mình: “Dù là những cá nhân riêng biệt con người chúng ta, ở một mức độ lớn, vẫn là đại diện, là nạn nhân và là tác nhân của một tinh thần tập thể có tuổi đời tính bằng thế kỷ. Ta có thể tưởng rằng suốt đời được làm theo ý mình, và có thể chẳng bao giờ nhận ra phần lớn thời gian ta chỉ là vai phụ trong vở kịch thế gian. Có những yếu tố dù ta không biết đến vẫn ảnh hưởng đến đời ta và càng mạnh hơn nếu chúng nằm trong vô thức”.
Các nhà Duy Thức và Phân Tâm Học đã nhận ra những hạt giống trong A lại da thức tức là Vô Thức theo Phân Tâm Học có những sức mạnh để điều khiển tâm trí ta như thế nào.
"Là Vô Phú Vô Ký
Vừa chuyển lại vừa hằng
Tàng thức luôn tương ứng
Năm tâm sở biến hành".
Vô phú là không bị che lấp. Vô ký là không thiện không ác. Như vậy trong một sát na đầu tiên A lại da có khả năng nhận thức được tính cảnh nếu không có sự can thiệp của thức thứ 6 (Ý Thức) và thức thứ 7 (Mạt na thức). A lại da thức làm việc với năm tâm sở biến hành là: Xúc – tác ý – thọ - tưởng – tư. Năm tâm sở này làm việc với a lại da theo đường lối của thức A lại da. Do vô phú và vô ký nên sẽ làm việc một cách trực tiếp không có sự suy tính như thức thứ sáu hay thức thứ bảy, nên khi xúc chạm A lại da sẽ tiếp nhận và giữ lấy tất cả. Khi nào đủ nhân duyên thì hạt giống đó sẽ nảy mầm. Bởi thế mà trong các kinh tạng Nikaya đức Phật luôn nhắc nhở chúng ta phải hộ trì sáu căn đừng tưới tẩm các hạt giống xấu trong chiều sâu tâm thức.
"Vô minh diệt minh sinh
Tàng chuyển thành vô lậu
Gương trí soi mười phương
Bạch tịnh và vô cấu"
Chúng ta đã biết trong tàng thức có những hạt giống của vô lậu và hữu lậu. Khi ánh sáng có mặt trong tàng thức – thức a lại da nghĩa là các hạt giống hữu lậu đã chuyển hóa thành vô lậu. Khi chúng ta thắp ánh sáng chính niệm trong tàng thức tất cả hạt giống hữu lậu sẽ chuyển thành vô lậu. Lúc này A lại da thức sẽ chuyển thành Đại Viên Cảnh Trí vì hình thái nhận thức của tàng thức là hiện lượng tức là không qua trí năng suy luận. Tàng thức khi tiếp xúc với đối tượng thì giữ nguyên hình thái của đối tượng, lúc này đối tượng của tàng thức là tính cảnh.

"Nương vào A lại da
Phát hiện thức Mạt na
Tác dụng là tư lương
Níu lấy tàng làm ngã"
Thức thứ 7 là mạt na thức, đây là vọng thức níu lấy một phần A lại da và chấp đó làm ngã, có tác dụng là tư lương. Tư lương là dòng suy nghĩ đắn đo thiếu ổn định. Thức mạt na làm căn cứ phát sinh ra sáu thức khác: nhãn thức, nhĩ thức, tỵ thức, thiệt thức, thân thức và ý thức. Thức thứ 7 này cũng làm việc liên tục không ngừng nghỉ nhưng bản chất của nó là so đo tính toán.
"Vì sáu chuyển thức khác
Đóng vai nhiễm tịnh y
Vừa thẩm lại vừa hằng
Hữu phú mà vô ký"
Hữu phú nghĩa là bị che, vô ký là không thiện không ác. Do bị ngăn che nên thức thứ 7 mới thường hay thẩm, vì khi quan sát một vấn đề nếu nhìn rõ thì đâu cần phải thẩm sát. Đây là căn bản của phiền não do tri giác sai lầm về sự vật hiện tượng. Thức thứ 7 có bốn phiền não căn bản là: tham, si, mạn và kiến. Vì thức thứ 7 nặng về ngã tướng nên các tâm sở phiền não thường bị khấy động bởi sự chấp ngã.
Đặc tính của thức thứ 7 (mạt na thức) là không làm việc với năm tâm sở biệt cảnh là: dục, thắng giải, niệm, định, tuệ.
+ Dục là ham muốn, thức thứ 7 yêu chính mình nên không yêu thích đối tượng nào khác.
+ Thắng giải: khả năng nhận diện xét đoán vấn đề một cách rõ ràng.
+ Niệm là nhớ, ý thức hay chú ý vào một đối tượng.
+ Định là quá trình duy trì của niệm.
+ Tuệ là tà tuệ bởi sự cố chấp vào ngã.
Thức mạt na cũng làm việc với tám đại tùy phiền não: trạo cữ, hôn trầm, bất tín, giãi đãi, phóng dật, thất niệm, tán loạn.
"Cũng như bóng theo hình
Mạt na theo tàng mãi
Là cơ chế tự tồn
Là bản năng dục ái"
Mạt-na thức hoạt động liên tục, không bao giờ gián đoạn (ngay cả khi ngủ say hay hôn mê). Nó luôn "tư lương" (suy nghĩ, đo đạc) và bám chặt lấy thức thứ 8 (A-lại-da thức) để coi đó là bản ngã của mình. Chính sự bám chấp không ngừng nghỉ này tạo ra bản năng sinh tồn mạnh mẽ.
Nếu không có Mạt-na thức, các dữ liệu từ A-lại-da thức chỉ là những hạt giống (chủng tử) rời rạc. Mạt-na thức đóng vai trò kết nối, gom tất cả lại để tạo thành một chủ thể thống nhất. Nó giống như một "hệ điều hành" luôn chạy ngầm để duy trì căn tính, giúp sinh vật nhận diện "đây là tôi" để phản ứng lại các mối đe dọa từ bên ngoài.
Thức thứ bảy hình thành do sự khấy động các hạt giống của vô minh, triền sử, ái nhiễm trong tàng thức. Để rồi lầm tưởng tàng thức là ngã của nó. Nên cứ mãi bám theo tàng thức như bóng theo hình. Khi có sự tu tập chuyển hóa Mạt na thức sẽ chuyển thành Bình đẳng tính trí.
Sở dĩ Mạt-na chuyển thành Bình đẳng tính trí là vì bản chất của nó là "chấp ngã" (phân biệt tôi và người). Khi tu tập đến mức xóa bỏ được sự ích kỷ này, nó sẽ nhìn vạn vật với cái tâm bình đẳng, không còn thấy sự sai biệt giữa mình và người khác.

"Nương vào ý làm căn
Pháp trần làm đối tượng
Ý thức được phát sinh
Phạm vi nhận thức rộng"
Ý thức = ý căn + pháp trần. Ý thức có đủ 3 tính và 3 lượng. Ba tính là: thiện, ác và vô ký. Ba lượng là: hiện lượng, tỷ lượng và phi lượng. Cho nên ý thức có phạm vi nhận thức rộng. Trong giáo lý của đạo Phật nói tới thân, khẩu, ý. Trong ba nghiệp ý thức là gốc của thân nghiệp và khẩu nghiệp. Lời nói hành vi của một người phụ thuộc vào ý thức của người đó. Ý thức cao thì hành vi cử chỉ lời nói thanh tao. Ý thức nông cạn thì hành vi cử chỉ lời nói thô tháo. Ý thức có thẩm mà không hằng do ý thức dựa trên ý căn mà phát sinh, ý căn còn là nền tảng của nhiễm tịnh của ý thức. Tự thân ý căn là thẫm nghĩa là có suy xét so đo đây là nguyên do của nhiễm tịnh. Ý thức tuy thẩm mà không hằng nên có lúc được nghỉ ngơi.
Ý thức đóng vai trò là người tạo nghiệp là kẻ gieo trồng. Khi ta gieo một ý niệm thiện hay ác thì đã tạo thành một dấu ấn trong tâm thức. Các hạt giống nghiệp trong A lại da thức khi gặp điều kiện trổ quả sẽ tạo thành nghiệp. Thế giới này vận hành dựa trên các hạt giống nghiệp dấu ấn trong tâm thức.
Ý thức (thức thứ 6) khi tu tập đến hàng Kiến đạo (Sơ địa) trở lên sẽ bắt đầu chuyển hóa dần thành Diệu quan sát trí.
Đây là một sự chuyển hóa rất quan trọng vì Ý thức là thức có công năng mạnh mẽ nhất trong việc phân biệt và tạo tác.
Khi chưa chuyển hóa, Ý thức của chúng ta thường quan sát mọi thứ qua lăng kính định kiến, sai lầm và phiền não. Khi trở thành Diệu quan sát trí, nó có những đặc điểm sau:
Quan sát tinh vi (Diệu): Khả năng thấu suốt được cả tự tướng (chi tiết riêng biệt) và cộng tướng (tính chất chung) của vạn pháp mà không bị nhầm lẫn.
Thấu hiểu căn cơ: Biết rõ tâm tính và trình độ của chúng sinh để thuyết pháp hoặc hỗ trợ một cách phù hợp nhất.
Không còn chấp trước: Quan sát mọi sự vật hiện tượng nhưng không còn bị dính mắc vào cái "tôi" hay "của tôi".
III. Sơ lược về Phân Tâm Học
a. Nguồn gốc của Phân Tâm Học
Phân tâm học (Psychoanalysis), chúng ta đang nói về một trong những học thuyết có tầm ảnh hưởng sâu rộng nhất đến tâm lý học, văn học và nghệ thuật thế kỷ 20.
Nguồn gốc của Phân tâm học từ một quá trình quan sát lâm sàng đầy đột phá của Sigmund Freud [2] tại Vienna, Áo, vào cuối thế kỷ 19.
Trước khi Phân tâm học ra đời, các bệnh lý tâm thần thường được coi là tổn thương vật lý ở não bộ. Tuy nhiên, Freud – vốn là một bác sĩ thần kinh – đã bắt đầu nhận thấy có những bệnh nhân bị liệt hoặc mù mà không có nguyên nhân thực thể nào.
- Ảnh hưởng từ Jean-Martin Charcot: Freud đã đến Paris để học hỏi Charcot, người sử dụng thôi miên để điều trị chứng "Hysteria" (rối loạn phân ly). Điều này giúp Freud nhận ra rằng các triệu chứng thể chất có thể bắt nguồn từ những ý tưởng ẩn sâu trong tâm trí.
- Trường hợp của Anna O. và Josef Breuer: Đây là bước ngoặt quan trọng. Bác sĩ Josef Breuer (đồng nghiệp của Freud) đã điều trị cho bệnh nhân Anna O. bằng phương pháp "khai thông bằng lời nói" (talking cure). Khi bệnh nhân nói về những ký ức đau buồn dưới trạng thái thôi miên, các triệu chứng của họ biến mất.
Freud dần từ bỏ thôi miên vì không phải ai cũng dễ bị thôi miên và kết quả không bền vững. Ông thay thế bằng phương pháp Liên tưởng tự do (Free Association) – để bệnh nhân nói bất cứ điều gì xuất hiện trong đầu họ mà không có sự kiểm duyệt.
- Năm 1895: Freud và Breuer xuất bản cuốn Nghiên cứu về Hysteria (Studies on Hysteria). Đây được coi là văn bản khai sinh ra Phân tâm học.
- Phân tích giấc mơ: Sau cái chết của cha mình năm 1896, Freud bắt đầu tự phân tích bản thân. Ông tin rằng giấc mơ là "con đường vương giả dẫn vào vô thức". Năm 1900, cuốn Giải mã giấc mơ (The Interpretation of Dreams) ra đời, đặt nền tảng lý thuyết vững chắc cho ngành này.
Carl Jung [3] là người kế thừa học thuyết của Freud. Ban đầu, Jung thực sự được Freud xem là người kế vị ngai vàng.
Sự ngưỡng mộ: Jung bị ấn tượng bởi cuốn Giải mã giấc mơ của Freud. Khi họ gặp nhau lần đầu vào năm 1907, họ đã trò chuyện liên tục suốt 13 giờ đồng hồ.
Sự tin tưởng: Freud cần Jung vì Jung là một bác sĩ tâm thần danh tiếng người Thụy Sĩ (không phải người Do Thái như hầu hết các thành viên trong hội của Freud ở Vienna), giúp Phân tâm học thoát mác là "khoa học của người Do Thái" và vươn ra quốc tế.
Chức vụ: Freud đã vận động để Jung trở thành Chủ tịch đầu tiên của Hiệp hội Phân tâm học Quốc tế (IPA).
Dù là học trò và cộng sự thân thiết, Jung dần nhận thấy những hạn chế trong học thuyết của Freud. Điểm mấu chốt nằm ở khái niệm Libido (Năng lượng tính dục).
Freud: Cho rằng mọi động lực của con người đều xoay quanh bản năng tính dục và những dồn nén từ thời thơ ấu.
Jung: Cho rằng Libido là năng lượng tâm trí nói chung, không chỉ có tính dục. Ông tin rằng tâm linh và những biểu tượng tôn giáo cũng đóng vai trò quan trọng.
Sự bất đồng đạt đến đỉnh điểm khi Jung xuất bản cuốn Tâm lý học về Vô thức (Psychology of the Unconscious) năm 1912. Đến năm 1913, họ chính thức cắt đứt mối quan hệ và không bao giờ nhìn mặt nhau nữa.
b. Cấu trúc Tâm Thức theo Phân Tâm Học

Chúng ta sẽ xét cấu trúc tâm thức theo Carl Jung vì học thuyết của Carl Jung toàn diện hơn và có nhiều nét tương đồng với Duy Thức Học.
Để hiểu về cấu trúc tâm thức (Psyche) theo Carl Jung, bạn có thể hình dung nó như một tảng băng trôi hoặc một ngôi nhà có nhiều tầng, nơi mà phần ý thức chúng ta thấy chỉ là một bề nổi rất nhỏ.
Jung chia tâm thức thành 3 tầng cấu trúc chính:
1. Ý thức (The Conscious)
Đây là tầng trên cùng, bao gồm tất cả những suy nghĩ, cảm xúc và ký nhận mà bạn nhận thức được trong hiện tại.
Cái tôi (The Ego): Đây là trung tâm của ý thức. Nó giống như "người gác cổng" quyết định thông tin nào được đưa vào nhận thức. Cái tôi giúp bạn giữ được bản sắc cá nhân và sự liên tục trong cuộc sống hàng ngày.
Mặt nạ (The Persona): Là "bộ mặt" bạn trình diễn ra với thế giới bên ngoài (ví dụ: hình ảnh người kiến trúc sư chuyên nghiệp, người con hiếu thảo). Nó giúp bạn thích nghi với xã hội nhưng không phải là con người thật toàn diện của bạn.
2. Vô thức cá nhân (Personal Unconscious)
Nằm ngay dưới ý thức, đây là nơi chứa đựng những trải nghiệm mà bạn đã quên, hoặc những ký ức đau buồn mà bạn chủ động kìm nén.
Các Phức cảm (Complexes): Đây là những nhóm cảm xúc, ý nghĩ có liên quan chặt chẽ với nhau và xoay quanh một chủ đề nhất định (ví dụ: phức cảm quyền lực, phức cảm người cha). Các phức cảm này có thể "chiếm quyền điều khiển" cái tôi, khiến bạn phản ứng thái quá trong một số tình huống mà chính bạn cũng không hiểu vì sao.
Bóng tối (The Shadow): Như đã thảo luận, đây là nơi chứa những phần tính cách mà cái tôi (Ego) từ chối thừa nhận (như sự lười biếng, ích kỷ, hoặc những khao khát hoang dã).
3. Vô thức tập thể (Collective Unconscious)
Đây là đóng góp vĩ đại nhất của Jung. Ông cho rằng chúng ta không sinh ra với một tâm trí trống rỗng. Có một tầng tâm thức sâu thẳm mà mọi con người đều chia sẻ, bất kể văn hóa hay sắc tộc.
Các Nguyên mẫu (Archetypes): Là những hình mẫu tâm lý bẩm sinh, những "bản thiết kế" có sẵn trong tâm thức. Chúng xuất hiện trong các câu chuyện cổ tích, huyền thoại và giấc mơ của mọi nền văn minh.
Anima/Animus: Phần tính nữ trong nam giới và phần tính nam trong nữ giới.
The Wise Old Man (Ông già thông thái): Đại diện cho trí tuệ.
The Hero (Người hùng): Đại diện cho ý chí vượt qua nghịch cảnh.
4. Bản ngã (The Self)
Nếu "Cái tôi" (Ego) là tâm điểm của ý thức, thì Bản ngã (The Self) là tâm điểm của toàn bộ cấu trúc tâm thức (bao gồm cả ý thức và vô thức).
Jung coi Bản ngã là mục tiêu cuối cùng của sự phát triển con người.
Quá trình Cá nhân hóa (Individuation): Là hành trình kết nối Ego với Self, tích hợp tất cả các phần đối lập (Persona và Shadow, Ý thức và Vô thức) để trở thành một cá thể toàn vẹn, độc nhất.

Jung đặc biệt quan tâm đến việc phân tích diễn giải giấc mơ, các biểu tượng xuất hiện trong đó, coi chúng là con đường dẫn vào vô thức, hé lộ những ham muốn ẩn giấu, những mong muốn bù đắp cho hiện tại, những khát vọng hướng tới tương lai. Và theo ông giấc mơ không phải là vô nghĩa mà giúp cho con người đạt đến sự hiểu biết toàn vẹn. Cách tiếp cận giấc mơ của Jung bị ảnh hưởng bởi Freud. Freud tin rằng trong giấc ngủ những ước muốn bị cấm đoán giải phóng khỏi sự ức chế ban ngày và tìm đến ý thức.
TS. Thích Nhất Hạnh có lần trong lúc thuyết Pháp thầy cũng nói về giấc mơ. Thầy nói các đệ tử của thầy là các sư cô, sư chú hay có những giấc mơ thấy họ là cô dâu hay chú rễ mặc dù họ là những người đã xuất gia. Thầy nói rằng: “nếu giấc mơ này đến một lần thì không sau nhưng nếu xuất hiện nhiều lần thì ta cần phải quán chiếu lại vì có thể ta không có hạnh phúc trong đời sống xuất gia.” Vì giấc mơ là những ước muốn bị đè nén trong vô thức mà ban ngày chúng không bao giờ lộ diện.
Lý thuyết về giấc mơ của Jung được tổng kết trong bốn mục sau:
- Giấc mơ là những sự kiện tự nhiên, tự phát diễn tiến độc lập với ý thức.
- Giấc mơ vừa có mục đích vừa mang tính bù đắp thúc đẩy sự cân bằng và cá thể hóa nhân cách.
- Những biểu tượng trong giấc mơ là những biểu tượng thật sự.
- Sức mạnh trị liệu của giấc mơ sẽ được hỗ trợ tốt hơn bởi các kỹ thuật phóng đại và tưởng tượng chủ động.
Jung xem biểu tượng trong giấc mơ là thực thể sống chúng diễn tả điều trước đó chúng ta không biết. Chúng là những ý tưởng trực giác vào lúc hình thành không có cách nào để trình bày tốt hơn. Như vậy biểu tượng có ý nghĩa siêu việt nhiều hơn những gì chúng nói. Biểu tượng của giấc mơ mãi mãi là thách thức đối với suy nghĩ và cảm nhận của chúng ta.
Rất nhiều nhà khoa học đã khám phá ra những quy luật của toán học, vật lý hay khoa học trong giấc mơ. Khi mơ họ thấy những công thức hiện ra trong giấc mơ sau khi tỉnh dậy họ đã ghi lại những công thức đó. Vô thức tập thể cũng tương đồng với Trí Tuệ Vô Hạn mà Napoleon Hill [4] hay nhắc đến, cũng tương đồng với A lại da thức của Duy Thức Học. Đây là nơi vượt quá tầm hiểu biết thông thường của ý thức.

Vô thức tập thể của Jung có thể được coi là "cổng vào" hoặc một phần biểu hiện của Trí tuệ vô hạn dưới góc độ tâm lý con người. Jung đã dùng khoa học và biểu tượng để giải mã thứ mà các nhà thần học gọi là "trí tuệ của Chúa".
Đây chính là nơi Jung tiến gần nhất tới khái niệm Trí tuệ vô hạn. Jung đưa ra thuật ngữ Synchronicity để chỉ những sự trùng hợp có ý nghĩa mà không có mối quan hệ nhân quả vật lý nào.
Ông cho rằng tâm trí chúng ta và thế giới vật chất bên ngoài có một sự liên kết ngầm. Khi bạn nghĩ về một điều gì đó và nó lập tức xuất hiện, Jung không gọi đó là ngẫu nhiên; ông coi đó là sự biểu hiện của một trật tự sâu sắc hơn bên dưới thực tại - điều này rất gần với cách mà mọi người định nghĩa về sự vận hành của Trí tuệ vô hạn.
Trí tuệ vô hạn (Infinite Intelligence) là khái niệm chỉ nguồn tri thức, sự sáng tạo và năng lượng dẫn đường tuyệt đối của vũ trụ, vượt xa trí thông minh hữu hạn của con người, thường liên quan đến trực giác, tiềm thức và tâm linh. Nó đại diện cho bản chất thực tại, kết nối vạn vật, và là nguồn sáng tạo bền vững vượt trên tư duy logic thông thường.
Các khía cạnh chính của Trí tuệ vô hạn:
- Bản chất tâm linh và triết học: Được xem là trí tuệ tuyệt đối, tương đồng với khái niệm Brahman trong Upanishad (ấn Độ giáo), hoặc Tam Minh trong đạo Phật.
- Sức mạnh trực giác: Là tiếng nói nội tâm, sự thấu hiểu đột ngột (epiphanies) không qua bước tư duy logic.
- Kết nối vũ trụ: Được coi là năng lượng dẫn đường, giúp con người kết nối với tiềm năng sáng tạo không giới hạn.
- Tài sản bền vững: Trí tuệ được xem là sự giàu có vô hạn, không ai có thể cướp đi, mang lại giá trị bền vững hơn tiền bạc.
Cách tiếp cận Trí tuệ vô hạn:
- Phát triển trực giác: Lắng nghe tiếng nói bên trong, rèn luyện sự tĩnh lặng tâm trí.
- Tu tập và rèn luyện: Theo quan điểm tâm linh, cần rèn luyện tâm trí, tư duy để vượt khỏi những giới hạn thông thường.
- Tư duy sáng tạo: Tin tưởng vào nguồn cảm hứng đến từ sự tập trung cao độ và trí tưởng tượng.

Quá trình phát triển tâm thức theo Carl Jung là quá trình cá nhân hóa để hiểu bản thân toàn vẹn hơn. Vì ông cho rằng con người hiện đại đang bị xã hội thao túng họ mang những chiếc mặt nạ xã hội và được đồng hóa định nghĩa bởi xã hội.
Những tính cách nào mà xã hội từ chối sẽ được đẩy xuống vùng bóng tối trong vô thức. Hơn nữa dù ở thời đại nào theo ông độc lập tư duy là vấn đề then chốt để phát triển cá nhân. Như cách mà Carl Jung nói con người là nguyên tử của xã hội. Và xa hơn nữa là sự kết nối với Trí Tuệ Vô Hạn thông qua Vô Thức tập thể. Đó là quá trình phát triển tâm linh mà Duy Thức gọi là chuyển thức thành trí.
IV. Sự tương đồng giữa Duy Thức Học và Phân Tâm Học
Duy Thức Học và Phân tâm học (Psychoanalysis) có những điểm tương đồng kinh ngạc, dù chúng ra đời cách nhau hơn 1.500 năm. Nhiều học giả hiện đại coi Duy Thức Học là "hệ thống tâm lý học chiều sâu" đầu tiên của nhân loại.
Dưới đây là các mối liên hệ chính, đặc biệt là sự giao thoa giữa hệ thống Tám thức và các học thuyết của Sigmund Freud và Carl Jung:
1. Sự tương đồng về Cấu trúc Tâm thức
Cả hai hệ thống đều thống nhất rằng: Ý thức chỉ là phần nổi của tảng băng trôi, phần lớn các hoạt động tâm linh diễn ra ở tầng ẩn sâu (Vô thức).

2. A-lại-da thức và Vô thức tập thể (Carl Jung)
Mối liên hệ sâu sắc nhất nằm ở thức thứ 8 (A-lại-da) và khái niệm Vô thức tập thể của Carl Jung:
- Kho lưu trữ (Tàng thức): A-lại-da chứa các "Chủng tử" (hạt giống) không chỉ từ đời này mà còn từ vô số kiếp trước. Tương tự, Jung cho rằng Vô thức tập thể chứa các "Nguyên mẫu" (Archetypes) – những ký ức và bản năng di truyền chung của toàn nhân loại.
- Tính kế thừa: Cả hai đều tin rằng con người sinh ra không phải là một "tờ giấy trắng". Chúng ta mang theo một gia sản tâm linh tiềm ẩn từ tổ tiên hoặc nghiệp lực quá khứ.
- Sự phóng chiếu: Duy Thức Học nói "Cảnh tùy tâm chuyển" (thế giới là sự biến hiện của thức). Jung cũng cho rằng con người thường "phóng chiếu" những nội dung vô thức (như cái Bóng - Shadow) lên người khác và thế giới xung quanh.
3. Mạt-na thức và Cơ chế phòng vệ của Cái Tôi
Thức thứ 7 (Mạt-na) có nhiệm vụ "chấp ngã" – luôn coi thức thứ 8 là một cái tôi vĩnh cửu.
Trong phân tâm học, Ego (Cái Tôi) luôn tìm cách duy trì sự kiểm soát và sử dụng các cơ chế phòng vệ (như dồn nén, phủ nhận) để tránh tổn thương.
Sự khác biệt là Duy Thức Học coi Mạt-na thức là nguồn gốc của ảo tưởng và đau khổ, cần phải được "chuyển hóa", trong khi Phân tâm học phương Tây tập trung vào việc xây dựng một Cái Tôi khỏe mạnh.
4. Chủng tử (Seeds) và Xung năng (Drives)
Chủng tử trong Duy Thức: Là những năng lượng tiềm tàng (Seeds) nằm trong A-lại-da thức, chờ đủ duyên sẽ phát khởi thành hành động (Hiện hành).
Xung năng/Năng lượng tâm thần (Libido): Freud nhấn mạnh vào các xung năng bản năng (như tính dục, hung tính) luôn thúc đẩy con người từ bên trong.
5. Điểm khác biệt cốt yếu
Mặc dù có nhiều nét tương đồng, mục đích cuối cùng của hai hệ thống rất khác nhau:
Mục đích: Phân tâm học hướng tới việc chữa lành các rối loạn tâm thần để cá nhân thích nghi tốt hơn với xã hội. Duy Thức Học hướng tới việc giải thoát hoàn toàn khỏi sinh tử luân hồi bằng cách triệt tiêu gốc rễ của sự chấp ngã.
Phương pháp: Phân tâm học dùng đối thoại, phân tích giấc mơ và liên tưởng tự do. Duy Thức Học dùng Thiền quán để nhìn thấu bản chất "Vạn pháp duy thức" và chuyển hóa các thức thành trí tuệ.
V. Kết luận
- Thông qua việc tìm hiểu về Duy Thức và Phân Tâm Học chúng ta đã hiểu được đường lối vận hành của tâm thức. Ngày nay chúng ta có thể khám phá không gian vũ trụ mặt trăng hay sao hỏa nhưng chúng ta chưa khám phá được tâm thức chính mình. Việc hiểu mình rất quan trọng vì thế đức Phật khuyên chúng ta nên tập trung vào việc tu tập chứ không nên khám phá các vấn đề siêu hình.
- Đối với Carl Jung việc tự nhận thức chính mình cũng rất quan trọng. “Nhà tâm lý học dường như là người duy nhất qua kinh nghiệm mà biết được sự chuẩn bị tinh thần của con người hiện đại bấp bênh đến mức nào, vì chính bản thân anh ta phải tìm kiếm trong bản chất con người những sức mạnh và ý tưởng hữu ích giúp cá nhân mỗi con người có thể tìm ra con đường đúng đắn để vượt qua bóng tối và nguy hiểm.”
- Xã hội hiện đại đang phải đối mặt với vấn đề tiêu thụ thiếu chính niệm gây ra nhiều hệ lụy về thân tâm gây ra các hội chứng lo âu, trầm cảm, mất ngủ, tổn thương tâm lý…Theo Duy Thức thì người tu cũng giống như người làm vườn vậy phải tưới tẩm và gieo trồng các hạt giống tốt và chuyển hóa các hạt giống xấu.
- Trong kinh Tương Ưng Bộ (Samyutta Nikaya), đức Phật dạy về Bốn loại thức ăn (Cattāro Āhārā) để chúng ta thấy rõ cách mà thân và tâm được duy trì, từ đó nhận diện nguồn gốc của khổ đau và tìm cách giải thoát.
Cái hay của bài kinh này chính là những ví dụ cực kỳ mạnh mẽ mà đức Phật dùng để chúng ta không còn chìm đắm trong ham muốn. Một bài học về sự tiêu thụ một cách có chính niệm.
1. Đoàn thực (Thức ăn vật chất)
Đây là thực phẩm chúng ta ăn uống hàng ngày để nuôi thân.
Mục đích: Duy trì mạng sống để tu tập, không phải để hưởng thụ sắc, hương, vị.
Ví dụ "Thịt đứa con": Đức Phật đưa ra hình ảnh một cặp vợ chồng đi qua sa mạc, hết lương ăn và phải ăn thịt đứa con duy nhất của mình để sống sót. Họ ăn trong đau đớn, không chút khoái lạc.
Bài học: Hãy nhìn thức ăn như một loại "dược phẩm" để duy trì sự sống, thay vì đam mê nó.
2. Xúc thực (Thức ăn từ sự tiếp xúc)
Là sự tiếp xúc giữa các giác quan (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý) với môi trường bên ngoài.
Mục đích: Hiểu rằng mọi cảm thọ (vui, buồn, trung tính) đều sinh ra từ sự tiếp xúc này.
Ví dụ "Con bò lột da": Một con bò bị lột sạch da, đứng đâu cũng bị côn trùng, vi khuẩn tấn công. Nó đau đớn khôn cùng dù đứng dựa vào tường hay nằm dưới đất.
Bài học: Sự tiếp xúc của giác quan với thế giới luôn mang lại những kích thích gây đau khổ nếu ta không biết hộ trì các căn.
3. Ý tư thực (Thức ăn từ ý chí/tư duy)
Là những ý định, mong cầu, hoài bão hoặc những quyết tâm thúc đẩy chúng ta hành động (tạo nghiệp).
Mục đích: Nhận diện những khát khao thầm kín đang dẫn dắt cuộc đời mình.
Ví dụ "Hố than hồng": Một người bị hai người đàn ông lực lưỡng lôi kéo vào một hố than đang cháy rực. Dù người đó vùng vẫy muốn thoát ra vì biết vào đó là chết, nhưng sức mạnh của nghiệp lực (ý muốn) vẫn kéo họ vào.
Bài học: Những ham muốn, kỳ vọng quá lớn thường thiêu đốt chúng ta trong vòng lặp của luân hồi.
4. Thức thực (Thức ăn của tâm thức)
Là dòng tâm thức duy trì sự tái sinh và sự hiện hữu của cái "tôi".
Mục đích: Hiểu rằng tâm thức không phải là một thực thể bất biến mà là một dòng chảy liên tục bị nuôi dưỡng bởi các nghiệp quá khứ.
Ví dụ "300 ngọn giáo": Một tên tội phạm bị nhà vua trừng phạt bằng cách cho đâm 100 ngọn giáo vào buổi sáng, 100 ngọn vào buổi trưa và 100 ngọn vào buổi chiều.
Nỗi đau của tâm thức cũng dày vò như vậy.
- Bài học: Chừng nào còn bám chấp vào tâm thức như một cái "tôi", chừng đó ta còn chịu sự chi phối của sinh tử.
- Thông qua bài kinh trên chúng ta thấy những gì chúng ta tiêu thụ hằng ngày sẽ quyết định chúng ta như thế nào.
- Sức mạnh của các hạt giống tiếp tục phát triển suốt thời gian nó ở trong tàng thức, cho đến khi những hạt giống đó nảy nở và buộc chúng ta phải trải qua một số kinh nghiệm dù tốt đẹp hay không.
- Không có bất cứ điều gì xảy ra nếu hạt giống không được gieo từ trước.
- Ngay cả một hành động nhỏ nếu thực hiện bằng một nhận thức sâu sắc sẽ khiến cách chúng ta nhìn thế giới như thế nào.
- Đức Phật dạy về bốn loại thức ăn không phải để chúng ta bi quan, mà để chúng ta thấu thị bản chất của sự sinh tồn. Khi hiểu rõ bốn loại thức ăn này, ta sẽ giảm bớt sự dính mắc (Ly tham), từ đó tâm hồn trở nên nhẹ nhàng và tự do hơn.
Dưới góc độ của Jung, đây là cách ông giải mã mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội:
1. Persona: "Chiếc mặt nạ" mà xã hội yêu cầu
Theo Jung, Persona là hệ thống thích nghi hoặc phương thức mà chúng ta dùng để giao tiếp với thế giới. Nó không phải là con người thật của bạn, mà là một "thỏa hiệp" giữa cá nhân và xã hội.
Sự áp đặt mang tính chức năng: Xã hội không thể vận hành nếu ai cũng bộc lộ mọi bản năng, ham muốn hoặc nỗi sợ thầm kín. Xã hội yêu cầu bạn phải đóng các vai trò: một người bác sĩ đáng tin cậy, một người con hiếu thảo, một nhân viên mẫn cán.
Kỳ vọng của tập thể: Xã hội áp đặt những "khuôn mẫu" (archetypes). Nếu bạn là giáo viên, xã hội áp đặt lên bạn hình thái của sự mẫu mực. Nếu bạn là lãnh đạo, đó là hình thái của sự quyết đoán. Chúng ta dần biến mình thành cái khuôn mà người khác mong đợi để được chấp nhận và bảo vệ.
2. Vì sao con người hiện đại lại "nghiện" mang mặt nạ?
Jung cho rằng Persona là cần thiết, nhưng con người hiện đại đang rơi vào cái bẫy của nó vì những lý do sau:
+ Sự sinh tồn và thuộc về
+ Chúng ta có bản năng sợ bị cô lập.
+ Chiếc mặt nạ giúp chúng ta "hòa tan" vào cộng đồng.
+ Trong thế giới hiện đại đầy rẫy sự phán xét (đặc biệt là mạng xã hội), chiếc mặt nạ trở thành tấm khiên bảo vệ cái tôi dễ tổn thương trước dư luận.
- Sự nhầm lẫn giữa "Vai diễn" và "Bản thể"
Đây là bi kịch lớn nhất mà Jung cảnh báo: Sự đồng hóa (Identification).
Con người hiện đại quá thành công trong vai trò xã hội đến mức họ tin rằng mình chính là chiếc mặt nạ đó.
Một vị giám đốc về nhà vẫn hành xử như sếp với vợ con.
Một người nổi tiếng luôn phải diễn vai "hạnh phúc" ngay cả khi đang trầm cảm.
Trốn tránh "Bóng tối" (The Shadow)
Xã hội hiện đại chỉ ưa chuộng những gì rực rỡ, tích cực. Vì vậy, chúng ta dùng Persona để che đậy Shadow – những phần tính cách bị coi là tiêu cực (ích kỷ, giận dữ, dục vọng). Càng muốn tỏ ra hoàn hảo trước xã hội, chiếc mặt nạ càng phải dày, và phần "Bóng tối" càng bị dồn nén mạnh mẽ.
3. Hệ quả: Khi mặt nạ "dính chặt" vào da mặt
Jung cảnh báo rằng nếu một người quá tập trung vào Persona, họ sẽ trở nên xa lạ với chính mình. Điều này dẫn đến:
Sự trống rỗng nội tâm: Bạn có tất cả sự công nhận của xã hội nhưng vẫn thấy vô nghĩa.
Khủng hoảng tâm lý: Khi chiếc mặt nạ vỡ tan (thất nghiệp, ly hôn, về hưu), cá nhân đó hoàn toàn sụp đổ vì họ không biết mình là ai nếu thiếu vai trò đó.
"Chiếc mặt nạ là cái mà một người không phải là, nhưng chính họ và những người khác lại nghĩ họ là như vậy." - Carl Jung

Lời khuyên từ góc độ Carl Jung: Mục tiêu của cuộc đời không phải là vứt bỏ mặt nạ (vì chúng ta vẫn cần nó để giao tiếp xã hội), mà là nhận biết mình đang đeo nó. Quá trình này Jung gọi là Cá nhân hóa (Individuation) – hành trình bóc tách những lớp áp đặt xã hội để tìm về với cái Tôi (Self) đích thực.
- Con người trong xã hội hiện đại càng sợ ở một mình vì họ sợ phải đối diện với phần bóng tối trong vô thức của chính mình. Theo quan điểm Duy Thức thì trong A lại da có nhiều hạt giống cả tích cực và tiêu cực. Khi ta ở một mình thì những hạt giống đó lại trồi lên vùng ý thức và thế là con người tìm sự khỏa lấp những nơi như: vũ trường, quán bar hay mạng xã hội,..Những lạc thú này chỉ cung cấp Dopamine chỉ khỏa lấp nỗi đau tạm thời. Carl Jung từng có một câu nói rất nổi tiếng: "Con người sẽ làm bất cứ điều gì, dù là những việc kỳ quặc nhất, để tránh phải đối diện với linh hồn của chính mình."
Sự im lặng và cô độc giống như một tấm gương phản chiếu không khoan nhượng. Khi không còn tiếng ồn của xã hội, không còn các vai diễn (Persona) để bận rộn, chúng ta buộc phải nghe thấy tiếng thì thầm của Shadow (Bóng tối).
Dưới đây là lý do tại sao sự cô độc lại đáng sợ đến thế theo góc nhìn tâm lý học Jungian:
1. Khi "Mặt nạ" rơi xuống
Khi ở một mình, chiếc mặt nạ xã hội trở nên vô dụng. Nếu bạn đã dành cả đời để đồng hóa mình với chức danh hay vẻ ngoài hào nhoáng, sự cô độc sẽ gây ra cảm giác hẫng hụt. Bạn sẽ tự hỏi: "Nếu không có những thứ này, mình là ai?". Sự trống rỗng đó chính là bước đầu của việc đối diện với Bóng tối.
2. Cuộc gặp gỡ với "Quái vật" trong gương
+ Bóng tối không chỉ là cái ác, mà là tất cả những gì bạn đã chối bỏ về bản thân để được xã hội chấp nhận:
+ Những nỗi đau chưa được chữa lành.
+ Sự ích kỷ, đố kỵ mà bạn luôn cố giấu.
+ Những khao khát "không chuẩn mực".
+ Khi ở một mình, những thực thể này không còn bị dồn nén bởi sự bận rộn, chúng trồi lên và đòi hỏi sự chú ý. Đó là lý do nhiều người thà lướt điện thoại vô định hoặc lao vào những cuộc vui ồn ào còn hơn là ngồi yên 5 phút với chính mình.

3. Nỗi sợ bị "nuốt chửng"
Jung cho rằng nếu chúng ta không có đủ sức mạnh nội tâm (một cái Ego vững vàng), việc đối diện với Bóng tối có thể gây ra sự hoảng loạn. Chúng ta sợ rằng nếu thừa nhận mình có những phần đen tối, chúng ta sẽ trở thành kẻ xấu hoặc mất kiểm soát.
- Vậy chúng ta nên đối diện với bóng tối của chính mình hay trốn chạy nó:
Thầy Thích Nhất Hạnh dạy rằng con người thường có xu hướng chạy trốn khổ đau để đi tìm hạnh phúc. Tuy nhiên, việc đi tìm hạnh phúc ở nơi không có khổ đau cũng giống như đi tìm hoa sen ở nơi không có bùn – đó là điều không tưởng. Thay vì xua đuổi, chúng ta cần học cách nhận diện, ôm ấp và chuyển hóa khổ đau bằng năng lượng Chính niệm. Hiểu được nỗi đau của chính mình là chìa khóa để nảy sinh lòng trắc ẩn và tình thương (hạnh phúc) đối với người khác.
- Thiền Vipassana (Thiền Minh Sát) không dạy chúng ta trốn tránh hay dùng ánh sáng để xua đuổi bóng tối. Thay vào đó, nó dạy ta cách quan sát bóng tối với một cái nhìn tỉnh thức và không phán xét.
1. Nhìn rõ "Bóng tối" bằng tâm xả (Equanimity)Thông thường, khi khổ đau ập đến, chúng ta thường có hai phản ứng: Kháng cự (muốn nó mất đi) hoặc Đắm chìm (bị nó cuốn đi). Vipassana giúp bạn đứng ở vị trí của một "người quan sát".Bạn nhìn thấy nỗi đau, sự cô đơn hay cơn giận như những hiện tượng vật lý trên thân (cảm thọ).Khi bạn quan sát mà không phản ứng, bóng tối mất đi nguồn năng lượng để duy trì.
2. Thấu hiểu luật Vô thường Bóng tối khổ đau thường trở nên đáng sợ vì chúng ta nghĩ nó là vĩnh viễn. Qua thực hành, bạn sẽ trực nhận được rằng:Mọi cảm thọ, dù đau đớn đến mức nào, cũng đều có sinh và có diệt.Khi hiểu được (Vô thường) qua trải nghiệm thực tế trên thân, tâm bạn sẽ bớt bám chấp, từ đó nỗi khổ tự khắc nhẹ đi.
3. Đối diện với "Tập khí" (Sankhara)Trong Vipassana, bóng tối chính là những Sankhara – những phản ứng tâm lý tích tụ từ quá khứ. Khi bạn giữ tâm bình thản trước một nỗi đau đang trỗi dậy, bạn đang cắt đứt chuỗi phản ứng cũ. Nỗi đau đó trồi lên để được "thanh lọc" và giải phóng, thay vì bị đè nén sâu hơn vào tiềm thức.
Không kỳ vọng: Nếu bạn thiền với mục đích "đuổi khéo" khổ đau, khổ đau sẽ càng siết chặt bạn hơn. Hãy thiền để hiểu nó.
Sự can đảm: Đối diện với bóng tối cần sự dũng cảm. Đôi khi bạn sẽ thấy mệt mỏi hoặc đau đớn hơn lúc đầu, nhưng đó là dấu hiệu của việc vết thương đang được bộc lộ để chữa lành.
Vipassana giống như việc bạn cầm một ngọn đèn đi vào hang tối. Ngọn đèn không làm bóng tối biến mất bằng bạo lực, nó chỉ đơn giản là soi sáng, và khi ánh sáng hiện diện, bóng tối tự nhiên không còn chỗ ẩn nấp.
Trên đây là những luận giải dựa trên quan điểm cá nhân nên chắc chắn còn nhiều thiếu sót kính mong nhận được sự chỉ giáo của quý Thầy và các vị đạo hữu.
Chú thích:
[1] Gustave Le Bon (1841–1931) là một nhà bác học đa tài người Pháp, nổi tiếng nhất với vai trò là nhà tâm lý học xã hội và xã hội học
[2] Sigmund Freud (1856–1939) là bác sĩ thần kinh người Áo và là người sáng lập ra Phân tâm học (Psychoanalysis). Ông được mệnh danh là "cha đẻ" của tâm lý học hiện đại nhờ những nghiên cứu mang tính cách mạng về tâm trí con người
[3] Carl Jung (1875–1961) là bác sĩ tâm thần, nhà trị liệu tâm lý người Thụy Sĩ và là người sáng lập ra Tâm lý học phân tích. Ông từng là học trò ưu tú và là người được Sigmund Freud chọn làm "người kế vị", nhưng sau đó hai người đã tách ra do những khác biệt sâu sắc về tư tưởng.
[4] Napoleon Hill (1883–1970) là một tác giả người Mỹ nổi tiếng, được coi là người đặt nền móng cho thể loại sách tự lực (self-help) và "thành công học" hiện đại.
Tài liệu tham khảo:
1. Thành Duy Thức Luận tác giả Huyền Trang.
2. 36 Bài tụng Duy Biểu tác giả TS.Thích Nhất Hạnh.
3. Dẫn luận về Freud tác giả Anthony Storr.
4. Dẫn luận về Jung tác giả Anthony Storr.
5. Hồi Ức Giấc Mơ Suy Ngẫm tác giả Carl Gustav Jung.
6. Con Người Và Biểu Tượng tác giả Carl Gustav Jung.
7. Cái Tôi Chưa Khai Phá tác giả Carl Gustav Jung.
*Ảnh trong bài tác giả cung cấp.
Tác giả: Cư sĩ Tăng Chí Vinh (PD: Minh Quang)
Địa chỉ: số 412B đường Tây Ba Rài, khu phố Tân Bình 1, P.Thanh Hòa, Đồng Tháp






Bình luận (0)