Bao giờ tóc mẹ xanh xưa / Cho lòng tôi ngọt hạt mưa đầu đời / Ơi bà mẹ Huế của tôi / Xanh trong đôi mắt ấm lời yêu thương.
Bao giờ tóc mẹ xanh xưa/Cho lòng tôi ngọt hạt mưa đầu đời/Ơi bà mẹ Huế của tôi/Xanh trong đôi mắt ấm lời yêu thương.
Tóc xanh từ thuở xuân thì
Dài theo năm tháng đến khi lấy chồng
Mưa dầm nắng quái ra đồng
Búi cao sau gáy bềnh bồng như mây.
Dại khờ tôi nghịch tóc bay
Mẹ đem thả dưới tre gầy ngoài hiên
không tiếng than phiền
Những hôm đứt bữa nỗi niềm vì đâu.
Đất cam dâng cạn mỡ màu
Lúa thành hạt gạo thơm hồng đào
Vì tôi mẹ sớm dãi dầu
Nắng mưa cái vạc đêm thâu rạc rào
Tuổi thơ qua những hư hao
Tôi đi từ mảnh ruộng sâu quê nhà
Tiễn tôi ra tận bến đò
Một ngày gió lớn ngẩn ngơ nát lòng.
Hương nhu còn thoảng bến sông
Đò xa tóc nhớ đứng trông khuất tầm
Thời gian từ bỏ thanh xuân
Tôi thương dáng mẹ lặng thầm trong mưa.
Bao giờ tóc mẹ xanh xưa
Cho lòng tôi ngọt hạt mưa đầu đời
Ơi bà mẹ Huế của tôi
Xanh trong đôi mắt ấm lời yêu thương.
Tác giả: Nguyễn An BìnhHội viên Hội Nhà Văn Tp.HCM
Khi đã hiểu rõ bản chất của phương tiện, người học Phật sẽ tự xây dựng cho mình một màng lọc chính kiến vững vàng giữa một biển thông tin nhuốm màu tín ngưỡng hiện nay.
Văn bản Thập vịnh kệ ở trong số mộc bản Trung tâm tư liệu Phật giáo số hóa tại chùa Đa Bảo, gồm 5 mặt ván khắc trên 3 ván (mặt thứ 6 thuộc về một tên sách khác).
Giữ gìn và thực hành đúng đắn ý nghĩa “Quá đường” chính là cách hộ trì chính pháp thiết thực nhất, giúp cho mạng mạch Phật pháp luôn được tiếp nối một cách trong sáng và vững chãi mãi về sau.
Những người này đều có điểm chung là tin vào giáo lý nhà Phật, sẵn sàng cúng tiền ruộng, tài sản để được làng bầu làm hậu Phật cho bản thân hoặc gửi giỗ cho ông bà, cha mẹ và những người thân khác trong gia đình.
Văn bản Thập vịnh kệ ở trong số mộc bản Trung tâm tư liệu Phật giáo số hóa tại chùa Đa Bảo, gồm 5 mặt ván khắc trên 3 ván (mặt thứ 6 thuộc về một tên sách khác).
Thông qua các tác phẩm của mình (nhất là Tham đồ hiển quyết), thiền sư đã trình bày một cách tương đối hệ thống quan niệm về chân như, phật tính và bản tâm, qua đó góp phần làm sáng tỏ những vấn đề cốt lõi của Thiền học Đại Việt thế kỷ XI-XII.
Trả nghi lễ tang về đúng tinh thần Phật giáo không phải là làm giảm sự trang nghiêm, mà là loại bỏ những gì không thuộc về giáo pháp; không phải làm tang lễ nghèo đi về hình thức, mà làm giàu hơn về giá trị nhân văn và chiều sâu tâm linh.
Gia đình sẽ luôn là nơi trang nghiêm nhất để gìn giữ ngọn lửa văn hóa tâm linh, bảo tồn trọn vẹn nét đẹp dân phong quốc tục mà tổ tiên ngàn đời đã chắt chiu, gìn giữ và truyền lại cho hậu thế.
Trong dòng chảy ấy, những giá trị tốt đẹp của Phật giáo vẫn tiếp tục đồng hành cùng mỗi gia đình Việt Nam trên con đường xây dựng hạnh phúc, nhân văn và phát triển bền vững.
Bình luận (0)